Chấn thương khớp gối

Tôi 29 tuổi, trong một lần đá bóng tôi bị chấn thương đầu gối phải, 3 ngày sau đó đầu gối sưng lên và tôi đã đến khám bệnh viện gần nhà. Bác sĩ khám, cho chụp X-quang, chụp MRI và kết luận: Có thể bị đứt dây chằng chéo trước nhưng không bị tổn thương khác, gối vững (MRI mờ nên không kết luận chính xác). Bác sĩ tiêm 1 mũi thuốc và cấp thuốc uống trong 1 tuần, cho bó nẹp cố định chân, yêu cầu đi nạng. Sau 17 ngày tôi mở nẹp ra thì thấy chân phải bị teo lại (7/10 chân trái). Tôi bước đi thử thì cảm giác tê ở gót chân. Hiện tại tôi chỉ duỗi thẳng được 170 độ và co lại chỉ được 90 độ. 
Nhờ bác sĩ cho tôi biết có nghiêm trọng không? Và tôi nên thực hiện phẫu thuật không?
* Theo những thông tin anh mô tả trong thư, rất có thể anh đã bị chấn thương dây chằng chéo trước. Kết quả MRI cho phép chúng ta định hướng và xác định thương tổn. Nhưng quyết định có phẫu thuật hay không còn dựa vào khám lâm sàng. Về chỉ định phẫu thuật thì vui lòng đến thăm khám trực tiếp để chúng tôi có thể tư vấn cụ thể.
* Chân của anh sau hơn 2 tuần mang nẹp thì việc teo cơ là tất yếu, tuy nhiên sau này nó có thể hồi phục lại nếu quá trình tập phục hồi chức năng tốt. Việc quan trọng hiện giờ là anh cần tập duỗi gối để gối có thể gấp duỗi như trước lúc bị chấn thương. Đồng thời hằng ngày, anh nên chườm đá lạnh quanh vùng gối 3-5 lần, 20 phút/lần. 
* Một số thông tin thêm về điều trị: Với chấn thương dây chằng khớp gối thường được phẫu thuật nội soi. Sau phẫu thuật anh phải đi bằng nạng và mang nẹp trong 06 tuần, sau đó mới tập đi lại bình thường. Viêc tập phục hồi chức năng sau phẫu thuật đóng vai trò rất quan trọng đến kết quả sau này của khớp gối (đi lại, vận động thể thao), do đó cần một chế độ tập luyện tích cực, tuân theo hướng dẫn của phẫu thuật viên và bác sĩ tập phục hồi chức năng. 

Ung thư vú

Chào bác sĩ, tôi năm nay 42 tuổi và dạo gần đây tôi phát hiện mình có khối u ở ngực. Mẹ tôi trước đây cũng bị ung thư vú. Tôi không biết mình có mắc bệnh không? Tôi nghe nói chụp nhũ ảnh có thể tầm soát ung thư vú và tôi có nên thực hiện phương pháp này không? Rất mong bác sĩ tư vấn giúp. Tôi xin cám ơn.
Ung thư vú là bệnh của phụ nữ, rất hiếm gặp ở nam giới. Theo Cơ quan nghiên cứu ung thư IARC Hoa Kỳ, ung thư vú đứng đầu, chiếm 21% ung thư của phụ nữ. Bệnh tăng dần theo tuổi: trước 40 tuổi dưới 10%, trước 50 tuổi khoảng 25% và sau 50 tuổi là trên 50%. 
Khoảng 5- 6% ung thư vú là do di truyền qua các gien BRCA1, BRCA 2, PALB 2. Và 70-80% phụ nữ có gien này có thể bị ung thư vú về sau. Có gia đình nhiều người bị ung thư vú, nhưng không thấy có yếu tố di truyền. 
Hai liệu pháp điều trị ung thư vú thông dụng hiện nay: (1) tại chỗ là phẫu thuật hoặc xạ trị trực tiếp vào tổn thương hoặc di căn và (2) toàn thân là dùng hóa chất và/hoặc hóc môn. 
Phụ nữ trên 40 nên tự kiểm tra vú bằng sờ nắn vú trước gương để phát hiện khối u, hoặc các bất thường khác như núm vú đỏ, đóng vảy hoặc loét, thụt vào trong, tổn thương “da cam”… và có nghi vấn thì nên đến bác sĩ chuyên khoa để được khám, tư vấn.
Chụp nhũ ảnh là thủ thuật đoán hình ảnh đặc biệt bằng X Quang rất cần thiết để chẩn đoán ung thư vú. Một số thủ thuật khác góp phần chẩn đoán chính xác hơn như siêu âm giúp định vị tổn thương, chụp cộng hưởng từ MRI trong một số trường hợp đặc biệt, khi chụp nhũ ảnh và siêu âm gặp khó khăn và chọc hút kim nhỏ FNA để chẩn đoán tế bào học. 
* Theo thư, chị đã sờ thấy có khối u vú, vì vậy chị cần phải chụp nhũ ảnh, siêu âm vú và chọc hút FNA hoặc bóc trọn u làm giải phẫu bệnh để có chẩn đoán thật chính xác và hướng điều trị thích hợp.

Béo phì tuổi trẻ

Con tôi 12 tuổi, cháu cao 140cm và cân nặng 51 kg. Cháu bự trội hơn hẳn các bạn bè cùng lứa. Cháu rất thèm ăn, Tôi sợ là cháu mắc phải bệnh béo phì. Rất mong bác sĩ tư vấn cụ thể cho tôi trong trường hợp của cháu ạ. Tôi xin cám ơn.
Hiện nay, tỷ lệ béo phì đã xấp xỉ 10% dân số, cá biệt có địa phương tỷ lệ cao gần 30%. Nếu bệnh không được kiểm soát và điều trị đúng đắn sẽ có nhiều biến chứng như: xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, bệnh nhồi máu cơ tim, đái tháo đường, suy nhược sinh dục...
Bình thường mỡ chiếm gần 25% trọng lượng cơ thể, nếu cao hơn là béo phì. Trong thực tế để đánh giá béo phì cần dùng các chỉ số sau: 

(1) Chỉ số khối cơ thể (BMI, Body Mass Index):
BMI = Trọng lượng cơ thể (kg)
Chiều cao (m)  chiều cao (m)
Chỉ số này dưới 18: thiếu cân, suy dưỡng; từ 18- 23: bình thường; từ 23- 25 quá cân và trên 25 béo phì; 

(2) Vòng bụng (VB): béo phì khi VB  90 cm ở nam hoặc VB  80 cm ở nữ và (3) Tỷ lệ vòng bụng/ vòng mông (VB/ VM): lớn hơn 1 là béo phì
Người béo phì thường có rối loạn mỡ trong máu, để xác định người ta đo bộ mỡ máu gồm: (1) Cholesterol toàn phần (TC) (2) Cholesterol có hại (LDL-C (3) Cholesterol có lợi (HDL-C) (4) Lipoprotein (VLDL) (5) Triglycerid (TG) và (6) Lipid. 
Phòng và điều trị béo phì bằng ba chế độ, “kiềng ba chân” : một là điều chỉnh chế độ ăn uống, hai là tăng cường vận động và ba là dùng thuốc men hoặc các phương cách khác. 
* Chế độ ăn vừa đủ, không quá no, quá nhiều. Hạn chế tối đa thức ăn có chất béo, giảm ăn đường, bột, tăng xơ sợi, rau quả, giảm tối đa rượu bia và thức uống có ga. 
* Tăng vận động: thể dục, thể thao, khí công với phương châm "cục đá lăn sẽ không bám mốc" (the rolling stones get no mosses), 
* Thuốc giảm béo để: giảm, ức chế hấp thụ chất béo; giảm cholesterol và các dạng mỡ khác; làm chán ăn.
Một số trường hợp béo phì đặc biệt có thể thực hiện: phẫu thuật lấy bớt mỡ, đặt bóng dạ dày hay nẹp dạ dày để giảm lượng thức ăn.
Theo thư, con bạn chắc chắn béo phì, cần theo các nguyên tắc phòng trị nêu trên. 

Hội chứng ruột kích thích

Em hay bị sình bụng, cảm giác khó chịu, đặc biệt khi có công việc gấp rút. Việc đại tiện bị rối loạn, lúc lỏng lúc lại táo bón. Vì thế cảm giác thèm ăn hầu như không có và gần đây em bị sụt cân nhiều. 
Trong gia đình em có người bị ung thư đại tràng. Vì lo sợ, em có đi siêu âm bụng nhưng bác sĩ bảo kết quả bình thường.
Em có mắc bệnh gì về đường tiêu hóa không ạ? Mong bác sĩ tư vấn cụ thể giúp em?

1. Theo thư trình bày, có khả năng là em bị hội chứng ruột kích thích (irritable bowel syndrome, IBS). Đây là bệnh lý đường ruột thường gặp nhất của Việt Nam và cả thế giới. Tỷ lệ mắc IBS từ 5% - 20%, nữ mắc gấp đôi nam. Thống kê của bệnh viện Bạch Mai, IBS chiếm 83,38 % bệnh lý đại, trực tràng và hậu môn.
IBS là tổng hợp của: (1) tăng nhậy cảm, dễ kích thích (2) giảm khả năng thích ứng với khối thức ăn và (3) rối loạn nhu động. Hậu quả là gây trào ngược dạ dày - thực quản, khó tiêu, tức bụng ở phần trên và gây táo bón, ỉa chảy …ở phần dưới.
Dấu hiệu của IBS tại hệ tiêu hóa gồm đau bụng, chướng hơi, buồn nôn, rối loạn đại tiện, rối loạn phân ...và ngoài tiêu hóa như đau đầu, mất ngủ, rối loạn tâm lý ...
Cần phân biệt IBS với: U đại tràng, U lympho, Viêm đại tràng, Hội chứng Crohn, Megacolon, Ngộ độc chì, Rối loạn chuyển hóa porphyrine….
Điều trị IBS cần để ý: (1) Chế độ ăn: dễ tiêu, ít gia vị, ít chất kích thích.., (2) Chế độ vận động: thư giãn, dưỡng sinh, đi bộ, xoa nắn bụng, tập đại tiện..và (3) Chế độ thuốc men: gồm các thuốc giảm đau, giảm co thắt, chống táo bón, nhuận tràng, chống ỉa chảy, chống sinh hơi, thuốc an thần...

2. Ung thư (trừ ung thư máu) thường có phát triển thành khối u, gọi là bệnh ung bướu. Qua siêu âm bụng của bạn, bác sĩ kết luận bình thường, không thấy có u bướu gì, thì khả năng ung thư đường ruột cũng ít, hoặc nếu có cũng chỉ ở giai đoạn đầu. 
Để chắc chắn, bạn nên đến cơ sở y tế để nội soi đại tràng và làm xét nghiệm tìm các chỉ dấu ung thư (tumor marker) cần thiết. 

Thiếu ối

Chào bác sĩ, cho em hỏi hiện tượng thiểu ối, khô ối thường xảy ra trong giai đoạn nào của thai kỳ? Em cám ơn.
Trong bụng mẹ, thai nhi không tiếp xúc trực tiếp với tử cung mà “bơi” trong dung dịch nước ối. Nước ối do nhau thai, màng ối, tuần hoàn máu mẹ sản sinh ra khi thai được 10-12 tuần tuổi. Lượng nước ối tăng dần từ 250 đến 800ml rồi giảm dần còn 500ml khi đến ngày sinh. Thành phần nước ối gồm nước (97%), muối khoáng, chất hữu cơ, chất điện giải, các hormone… Nước ối rất quan trọng vì đây là môi trường cho thai nhi phát triển và giúp hạn chế các chấn động từ bên ngoài. 

Thiểu ối hay cạn ối, là tình trạng nước ối ít hơn mức bình thường. Thiểu ối có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn của thai kì, nhưng thường vào quý thứ ba, từ tuần thai thứ 30 trở đi.
Ba nhóm nguyên nhân dẫn tới thiểu ối 

Một là Các bệnh lý của mẹ: Tăng huyết áp, Tiền sản giật, Bệnh lý gan, thận...; 

Hai là Các bệnh lý của thai: ối vỡ sớm, bất thường bẩm sinh của thai kỳ như 
(1) Hệ thần kinh: Thai vô sọ, Não úng thuỷ, Thoát vị não màng não 
(2) Hệ tiêu hoá: Tắc nghẽn đường tiêu hoá do Thoát vị rốn, Dò thực quản - khí quản, Teo hành tá tràng
(3) Hệ hô hấp như Giảm sản phổi
(4) Hệ tiết niệu: Tắc nghẽn đường tiết niệu hoặc không có thận. Bất sản thận, Nghịch sản thận, Thận đa nang, Thiểu ối do thai chậm phát triển sau tình trạng thiếu oxy, giảm tưới máu phổi và giảm tiết dịch, Nhiễm trùng thai, Thuốc kháng Prostaglandin, Hoá trị ung thư và 

Ba là Không xác định rõ nguyên nhân, chiếm khoảng 30 % trường hợp thiểu ối.

Dự phòng thiểu ối bằng cách: Khám thai định kì nhằm phát hiện những bệnh lý có liên quan thiểu ối, để có những điều trị kịp thời, theo đúng nguyên nhân gây bệnh. Cần đi khám ngay nếu có dấu hiệu ra dịch nước, máu âm đạo bất thường, quá ngày dự sinh hoặc cử động thai có bất thường: máy ít hoặc không máy...

Hội chứng ống cổ tay

 

Dạo gần đây tay em rất hay bị tê, công việc của em thường xuyên dùng máy tính. Những lúc gõ bàn phím, em phải dừng lại vẫy tay mấy cái rồi mới tiếp tục đánh máy được. Lúc trước khi làm việc nhiều thi thoảng em mới bị tê. Nhưng càng ngày tay em trở nên tê nhiều hơn, tay ra mồ hôi nhiều hơn và khả năng cầm nắm của tay em giảm thấy rõ. Đặc biệt, ngón tay cái và ngón trỏ ngứa như kiến bò khi cầm điện thoại. Mong bác sĩ tư vấn giúp em. Cám ơn

Nếu tê tay chỉ xuất hiện ở ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa thì rất có thể đây là “Hội chứng ống cổ tay” (carpal tunnel syndrome). Đây là bệnh lý khá thường gặp với biểu hiện ban đầu là: tê hoặc ngứa như kiến bò ở ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa và yếu tay. Các triệu chứng cảm giác này thường xuất hiện khi lái xe, cầm điện thoại, hoặc cầm báo… 

Bệnh do chèn ép thần kinh giữa vùng cổ tay. Nhiều nguy cơ gây bệnh như: giải phẫu cổ tay; giới tính; viêm nhiễm; bệnh nội tiết; thay đổi cân bằng dịch cơ thể; điều kiện làm việc….
Để giảm tê tay nên: nghỉ những khoảng ngắn trong lúc làm việc, xoay cổ tay, duỗi lòng bàn tay và các ngón tay, đeo nẹp cổ tay trong khi ngủ, tránh dùng tay làm gối. Ngoài ra bạn cũng nên thử những biện pháp khác như: Yoga, các bài tập cho tay, liệu pháp siêu âm.
Nếu sự tê tay xuất hiện liên tục, gây khó chịu trong sinh hoạt hằng ngày, bạn nên đi khám và tư vấn chuyên khoa ngoại thần kinh hoặc chấn thương chỉnh hình. Có thể phải chụp Xquang cổ tay và đo điện cơ đồ để có chẩn đoán chính xác.

Có hai cách điều trị hội chứng ống cổ tay là điều trị nội khoa (mang nẹp cổ tay, dùng thuốc, tiêm thuốc vào cổ tay ) và ngoại khoa (mổ giải phóng thần kinh giữa). 
Bạn nên giảm bớt lực nắm đồ vật, để tay nghỉ ngơi, cải thiện tư thế làm việc hợp lý (để bàn phím ngang tầm với khuỷu tay hoặc thấp hơn một chút), giữ ấm hai bàn tay. 

Bệnh Gút

Chân tôi sưng và rất đau, đặc biệt ở ngón chân cái, mắt cá chân, bàn chân. Tình trạng này đã kéo dài hơn 1 năm, nhưng khoảng thời gian 2 tháng trở lại mức độ đau của tôi tăng dần và thậm chí chỗ đau có dấu hiệu sưng đỏ. Trong một lần khám sức khỏe định kỳ thì chỉ số axit uric của tôi là 430mmol/L. Tôi có phải bị bệnh gút không ạ? Mong bác sĩ tư vấn giúp?
TRẢ LỜI 
Bệnh gút (thống phong) được Hyppocrate, ông Tổ y khoa, mô tả từ thế kỷ thứ IV trước công nguyên với bốn dấu đặc trưng: sưng, nóng, đỏ, đau. Galen, phẫu thuật viên người La Mã, đã dùng từ Hy Lạp gutta (giọt nước) để đặt tên bệnh vì trong khớp bị gút thường có dịch. 

Tỉ lệ mắc bệnh gút trên thế giới là 0,3%. Nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ, chiếm đến 90% số bệnh nhân, tuổi trung niên nhiều nhất.
Tế bào gồm có màng, tế bào chất và nhân. Trong nhân chứa các axít nhân (AND và ARN). Purine cấu tạo quan trọng của axít nhân; khi giáng hóa purine sẽ cho sản phẩm chính là axít uric. Bệnh gút xảy ra khi nồng độ axit uric máu quá cao, lắng đọng vào trong bao, dịch khớp, dây gân… gây ra viêm khớp. 

Xét nghiệm chính “vàng” để xác định gút là nồng độ axít uric máu. Ngoài ra có thể xét nghiệm dịch khớp, chụp X quang, siêu âm, nội soi khớp để đánh giá thêm tổn thương.
Các nguy cơ gây bệnh gút: (1) Ăn quá nhiều đạm: thịt đỏ; nội tạng như tim, gan, não, thận, lòng...; các loại hải sản; các loại nấm, đậu… Uống nhiều bia, rượu; (2) Một số bệnh làm dễ bị gút như đái tháo đường, béo phì, rối loạn mỡ máu..(3) Một số thuốc chữa bệnh: lợi tiểu, aspirin, chống thải ghép và (4) Yếu tố di truyền.

Nếu không chữa trị tốt, bệnh gút có thể gây thoái hóa khớp, viêm mạch máu, hạt tophi chèn ép thần kinh, sỏi thận, suy thận... 
Điều trị gút nhằm: (1) Ức chế tổng hợp axít uric: allopurinol (Zyloric, Purinol); (2) Tăng thải axit uric: benzobromate, probenecid, urate oxidase, uống nhiều nước, (3) Giảm đau: Colchicin và NSAIDS và (4) Phẫu thuật hạt tophi. 
Theo thư bạn chắc chắn bị bệnh gút. Bạn cần đến cơ sở y tế gần nhất để được điều trị sớm.

Đái tháo đường trong thai kỳ

Chào bác sĩ, trước đây khi mang thai tôi được chẩn đoán là đái tháo đường trong thai kỳ và đã điều trị. Hiện tại con tôi được 3 tháng tuổi. Tôi không biết là con tôi có mắc bệnh đái tháo đường không? Nếu có thì nhờ bác sĩ tư vấn cách điều trị cho cháu. Xin cám ơn.
Trong y học chẩn bệnh là khâu quan trọng nhất. Có xác định ra bệnh thì mới có hướng điều trị và tiên lượng về sau.
Nguyên nhân gây ra đái tháo đường được xếp vào hai nhóm: Một là gene di truyền: chủng tộc, gia đình. Đây là yếu tố không điều chỉnh được (unmodifiable factors). Hai là lối sống & môi trường: ăn uống, vận động. Đây là yếu tố có thể cải tạo, điều chỉnh được (modifiable factors)

Có 10 trường hợp được khuyến cáo nên kiểm tra đái tháo đường gồm: (1) Gia đình trực hệ (bố, mẹ, anh chị em ruột…) có người đái tháo đường, (2) Chỉ số khối cơ thể, BMI ≥ 23 kg/m2, (3) Sinh con nặng ≥ 4kg hay bị ĐTĐ thai kỳ, (4) Có rối loạn lipid máu (LDL cao, HDL thấp, Triglyreride cao), (5) Vòng eo lớn (Nam ≥ 90cm, Nữ ≥ 80cm), (6) Buồng trứng đa nang, (7) Có dấu hiệu kháng insulin lâm sàng (béo phì, ngủ sau ăn, dấu gai đen..), (8) Tăng huyết áp, (9) Tiền căn có bệnh mạch vành và (10) Ít vận động tay chân.
Theo thư chị hỏi, con chị nằm trong trường hợp (1) có quan hệ “trực hệ” là mẹ bị đái tháo đường. Do đó, cháu cần phải đi xét nghiệm để tầm soát.

Y học thường dựa vào 1 trong các tiêu chí sau để chẩn đoán:
* Đái tháo đường: (1).HbA1c ≥ 6,5% hoặc (2). Đường máu đói Go ≥ 7.0 mmol/ L ( ≥ 126 mg/dL) hoặc (3). Đường máu 2 giờ trong nghiệm pháp dung nạp glucose, G2 ≥ 11,1 mmol/L ( ≥ 200 mg/dL) hoặc (4). Đường máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/L ( ≥200 mg/dL)
* Tiền (sắp) đái tháo đường: (1) HbA1c từ 5,7 đến 6,4 % hoặc (2) Đường máu đói Go từ 5,6 – 6,9 mmol/L (100 – 125 mg/dL) hoặc (3) Đường máu 2 giờ trong nghiệm pháp dung nạp glucose G2 đo trong mức từ 7,8 – 11 mmol/L (140 – 199 mg/dL).

Viêm Gan B

Tôi mắc bệnh viêm gan B, tôi vừa sinh cháu được hơn 5 tháng. Trong khoảng 24h kể từ lúc sinh cháu, gia đình tôi đã không tiêm vắc xin phòng ngừa viêm gan B cho trẻ. Tôi rất lo không biết cháu có bị mắc bệnh viêm gan B không. Phiền bác sĩ tư vấn cụ thể hơn cho con tôi trong trường hợp này, tôi xin cám ơn rất nhiều.
Việt Nam nằm trong khu vực có tỷ lệ người mang virus viêm gan B cao, tỷ lệ 1/8 người bị nhiễm. Hơn 80% người mang virus viêm gan B không có triệu chứng, nhưng vấn có khả năng lây bệnh, và đa số ung thư gan đều có nhiễm virut viêm gan B.

Virut viêm gan B có thể lây qua: (1) Truyền máu, (2) Tiếp xúc với máu hay chất dịch của bệnh nhân khi da hoặc niêm mạc bị trầy sướt rách thủng như trong các trường hợp: tiêm chích xì ke, châm cứu, xăm mình, xỏ lỗ tai, dùng chung bàn chải đánh răng, dao cạo râu…(3) Qua dụng cụ y tế không đảm bảo vô trùng khi chữa răng, nội soi hoặc nạo thai..(4) Tiếp xúc tình dục với người bệnh mà không dùng bao cao su và (5) Đường truyền mẹ con.

Tiêm chủng là cách duy nhất để phòng viêm gan B. Với trẻ em, tiêm chủng phòng viêm gan B có thể đạt hiệu quả trên 95%. Cần tiêm phòng càng sớm càng tốt và tiêm đủ ba mũi theo đúng lịch. Lưu ý: Nếu đã nhiễm virut viêm gan B, nhưng do không biết, tiêm phòng vắc xin thêm cũng không sao, chỉ tốn chi phí cho liều vắc xin. Do đó cho nên, với người lớn và nghi ngờ đã nhiễm viêm gan B, nên làm xét nghiệm loại trừ trước khi chủng ngừa.

Trong trường hợp cụ thể của con chị, cháu bé có 2 khả năng: một là đã nhiễm virut viêm gan B từ mẹ mà chưa phát bệnh và hai là không bị nhiễm virut viêm gan B. Hai khả năng này có thể phân biệt được qua xét nghiệm HBsAg: Dương tính tức là đã bị lây nhiễm, Âm tính thì phải cho cháu bé tiêm chủng càng sớm càng tốt. Lịch tiêm chủng như các bé bình thường. 

Bệnh trĩ

Chào bác sĩ, gần đây khi đi đại tiện em cảm thấy khó khăn và hay bị chảy máu đỏ tươi. Em có đi khám và được chẩn đoán là bị trĩ, nhưng uống thuốc vẫn không đỡ. Kính mong bác sĩ tư vấn cho em thêm phương pháp điều trị.
TRẢ LỜI 

Bệnh trĩ gặp khá nhiều, dân gian có câu ví “thập nhân cửu trĩ”. Thống kê y học trĩ chiếm tới 30-50% người lớn. 
Những yếu tố làm dễ mắc bệnh trĩ như: Lỵ, táo bón, ỉa chảy, ăn cay, bia rượu, đứng lâu,…
Hai triệu chứng chính của trĩ là chảy máu tươi và sa trĩ.

Có hai loại trĩ là: 
Trĩ nội khi búi trĩ nằm trên đường răng lược và chia làm 4 độ: (1) trĩ chỉ to trong ống hậu môn, không sa ra ngoài, (2) búi trĩ sa ra ngoài, sau đó tự co lên, (3) búi trĩ sa ra ngoài, phải lấy tay đẩy búi trĩ mới vào lại hậu môn và (4) búi trĩ sa thường xuyên ở ngoài hậu môn hoặc đẩy vào rất khó, đi lại nhiều hoặc gắng sức búi trĩ lại tụt ra ngoài. Trĩ nội có thể làm sa, nghẹt, tắc mạch. Trĩ ngoại búi trĩ nằm ngoài đường răng lược, được phủ bởi da. Trĩ ngoại có thể gây tắc mạch.

Bệnh trĩ có thể điều trị bằng nội khoa, thủ thuật hay phẫu thuật. Chỉ định điều trị tùy theo giai đoạn bệnh, nguyện vọng của bệnh nhân, kinh nghiệm của thầy thuốc và trang thiết bị của cơ sở y tế. Điều trị nội khoa gồm dùng thuốc, chích xơ, thắt vòng cao su…Phẫu thuật thường là phương sách cuối cùng khi các phương pháp nội khoa và thủ thuật không hiệu quả. Chỉ định phẫu thuật thường chỉ áp dụng cho các búi trĩ nội độ 3, độ 4, trĩ có huyết khối, trĩ vòng sa và xuất huyết nặng. Phẫu thuật được dùng nhiều nhất hiện nay là phương pháp Milligan Morgan và Longo:
(1) Phẫu thuật Milligan Morgan: cắt riêng biệt từng búi trĩ, để lại các cầu da-niêm mạc (2) Phẫu thuật Longo: sử dụng máy khâu vòng để cắt một khoanh niêm mạc trên đường lược 2-3 cm và khâu vòng bằng máy bấm. Phương pháp này được ưa chuộng vì ít đau, thời gian nằm viện ngắn, nhanh lành, bệnh nhân về lao động sớm.
Nếu bạn có câu hỏi khác, vui lòng gửi câu hỏi cho chúng tôi hoặc liên hệ Bộ phận Chăm sóc khách hàng.
Gửi câu hỏi cho chúng tôi
Trang 1 / 3 1 2 3 »